HÀNH TRÌNH TRỞ THÀNH “QUỐC GIA THÔNG MINH” GẮN LIỀN VỚI CHUYỂN ĐỔI SINH THÁI XÃ HỘI CỦA SINGAPORE VÀ KINH NGHIỆM DÀNH CHO VIỆT NAM
Mô hình thành phố thông minh đang đánh dấu một sự chuyển đổi sâu sắc trong cách thức hình thành, phát triển và quản lý các khu vực đô thị. Việc hiện thực hóa hoàn toàn một thành phố thông minh không chỉ đơn thuần là triển khai các tiện ích tiên tiến; mà còn đòi hỏi sự liên kết chiến lược và hài hòa giữa công nghệ, quản trị tinh vi, cam kết kiên định đối với tính bền vững và sự hòa nhập xã hội sâu sắc. Với mục tiêu là phù hợp với các tiêu chuẩn phát triển bền vững toàn cầu như Mục tiêu Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc (SDGs), đặc biệt là Mục tiêu Phát triển Bền vững số 11 về các thành phố và cộng đồng bền vững, những thành phố thông minh thành công của tương lai sẽ là những thành phố không chỉ áp dụng công nghệ tiên tiến mà còn đề cao quản trị toàn diện, ưu tiên tính bền vững của môi trường và thực sự đặt người dân vào trọng tâm phát triển, biến không gian đô thị thành môi trường thông minh, đáng sống và bền vững hơn cho các thế hệ mai sau.
Hành trình trở thành “Quốc gia Thông minh” của Singapore cũng mang những ý nghĩa tương tự, khi đóng vai trò như một lời giải thông minh cho những thách thức đặc thù của đảo quốc sư tử như diện tích nhỏ hẹp, tài nguyên thiên nhiên hạn chế, mật độ dân số cao và cơ sở hạ tầng chịu áp lực lớn. Nền móng đầu tiên của hành trình này được đặt vào những năm 1980 với “Chương trình Tin học hóa Dịch vụ Công”, sau đó được nâng cấp lên bằng một loạt các kế hoạch chiến lược IT 2000, các kế hoạch hành động Chính phủ tích hợp 2010 và Chính phủ điện tử 2015. Tuy nhiên, bước ngoặt lớn nhất diễn ra vào cuối năm 2014 với sự ra đời của sáng kiến “Smart Nation” – một cuộc chuyển đổi toàn diện trên mọi khía cạnh của đời sống đô thị với mục tiêu cải thiện cuộc sống của người dân và tạo ra các cơ hội kinh tế mới. Ngày 1/10/2024, Singapore chính thức khởi động chương trình Smart Nation 2.0 – phiên bản nâng cấp toàn diện của chiến lược chuyển đổi số một thập kỷ trước đó, với hơn 1 tỷ đô la được đầu tư riêng cho trí tuệ nhân tạo.

(Nguồn ảnh: https://www.smartnation.gov.sg/about/our-vision/smart-nation-vision/)
Vị thế tiên phong của Singapore trong việc định vị trở thành một đô thị thông minh toàn cầu được minh chứng rõ nét qua các chỉ số quốc tế uy tín, khi đảo quốc này liên tục giữ vị trí thứ 3 tại Chỉ số Phát triển Chính phủ điện tử của Liên Hợp Quốc 2024 và duy trì sự hiện diện trong top 10 thành phố thông minh nhất hành tinh theo báo cáo Chỉ số Thành phố Thông minh IMD 2025. Đây chỉ là hai trong số vô vàn các thành tựu nổi bật trên đa lĩnh vực của Singapore trong chặng đường theo đuổi mô hình đô thị thông minh, từ thiết lập hạ tầng kỹ thuật số chiến lược quy mô toàn quốc cho đến triển khai chuỗi dịch vụ thông minh đa ngành can thiệp sâu rộng vào đời sống. Bài viết này tập trung khai thác vào những ảnh hưởng tích cực của chiến lược hóa mô hình thành phố thông minh lên quá trình chuyển đổi sinh thái xã hội tại Singapore.
Có thể nói chiến lược hóa mô hình thành phố thông minh và quá trình chuyển đổi sinh thái xã hội tại Singapore chưa bao giờ là hai câu chuyện riêng biệt khi việc chiến lược hóa mô hình thành phố thông minh đã trở thành bệ phóng cốt lõi giúp Singapore dần hiện thực hóa tầm nhìn phát triển bền vững toàn diện bằng cách tích hợp dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo (AI) và mạng lưới cảm biến Internet vạn vật (IoT) để tối ưu hóa tài nguyên một cách hệ thống.
Trong lĩnh vực chính phủ số, nổi bật là Singpass – nền tảng Định danh số Quốc gia, đóng vai trò là “chìa khóa vạn năng” xác thực danh tính pháp lý trên không gian số, sử dụng công nghệ Singpass Face Verification kiểm tra thực thể sống, bảo vệ tài khoản công dân. Hiện tại, Singpass kết nối an toàn với hơn 700 dịch vụ công – tư; từ khai thuế, nộp phạt, kiểm tra quỹ an sinh xã hội, cho tới mở tài khoản ngân hàng trong vài phút, ký kết hợp đồng bảo hiểm, mua bán bất động sản số, và đăng ký các dịch vụ viễn thông mà không cần giấy tờ bản cứng. Với phạm vi kết nối chuyên biệt hơn, ứng dụng LifeSG hợp nhất các dịch vụ chính phủ thiết yếu cho công dân với thiết kế theo hướng “sự kiện đời sống” (sinh con, tìm việc, nghỉ hưu,…). Người dân không cần biết cơ quan nào quản lý dịch vụ, họ chỉ cần tìm theo nhu cầu thực tế của mình. Bên cạnh đó, GoBusiness với tính năng cốt lõi “một cửa” và khả năng tích hợp Cổng thông tin Tài trợ Doanh nghiệp đã số hóa toàn diện quy trình tương tác giữa doanh nghiệp và Chính phủ. Các sáng kiến chính phủ số như trên không chỉ đơn thuần là công cụ tối ưu hóa thủ tục hành chính, mà còn mang lại những ảnh hưởng tích cực đến quá trình chuyển đổi sinh thái xã hội. Các sáng kiến này trực tiếp cắt giảm dấu chân carbon và tối ưu hóa tài nguyên toàn xã hội thông qua việc hạn chế sử dụng giấy tờ, các văn bản vật lý trong quy trình làm việc, cũng như giảm thiểu phát thải giao thông.

(Nguồn: https://www.tech.gov.sg/products-and-services/for-citizens/digital-services/singpass/)
Lĩnh vực giao thông cũng ghi nhận những chuyển biến xanh rõ rệt nhờ hệ thống thu phí đường bộ điện tử (Electronic Road Pricing) thông minh hoạt động dựa trên cảm biến định vị, tự động điều chỉnh mức phí theo mật độ xe thời gian thực để giảm thiểu ùn tắc và cắt giảm lượng khí thải, mô hình phát triển xe tự hành (Autonomous vehicles) tối ưu hiệu suất vận hành, thích ứng với xã hội già hóa nhanh chóng. Đồng thời, cổng thông tin OneMotoring của Cơ quan Quản lý Giao thông Đường bộ Singapore (LTA) cho phép người dân và các chủ phương tiện có thể tiếp cận trực tiếp hệ thống dữ liệu thời gian thực bao gồm: bản đồ camera giám sát kẹt xe trực tiếp trên các tuyến cao tốc, tình trạng sẵn có của các bãi đỗ xe diện rộng, và quản lý các thủ tục đóng phí đường bộ/đăng ký xe một cửa. Đây là một thành phần cốt lõi thuộc hệ thống giao thông thông minh (Intelligent Transport System – ITS) – một mạng lưới công nghệ thu thập dữ liệu tạo nên một bức tranh năng động, thời gian thực về sự lên xuống của dân cư trong cuộc sống hàng ngày. ITS sử dụng các cảm biến, hệ thống điều khiển và giao thông, cùng với phân tích dữ liệu, để tối đa hóa hiệu quả hoạt động của mạng lưới đường bộ, giám sát và quản lý lưu lượng giao thông, làm cho đường sá an toàn hơn, góp phần vào quá trình quy hoạch đô thị dựa trên dữ liệu thực. Dựa trên báo cáo chung của Nhóm Lãnh đạo Khí hậu C40 Cities và Siemens, ITS đã giúp Singapore trở thành một trong những thành phố lớn có tỷ lệ tắc nghẽn giao thông thấp nhất, với tốc độ trung bình của ô tô trên các tuyến đường chính là 27km/h, so với tốc độ trung bình 16km/h ở London và 5km/h ở Jakarta.

(Nguồn: https://www.straitstimes.com/singapore/transport/more-service-options-for-vehicle-owners-on-revamped-onemotoring-site)
Trong quản lý năng lượng và công trình, Singapore ứng dụng công cụ mô phỏng số Integrated Environmental Modeller (IEM) để phân tích luồng gió và bức xạ mặt trời, từ đó quy hoạch các tòa nhà đón gió tối đa và giảm hiệu ứng đảo nhiệt đô thị một cách tự nhiên. Đối với hạ tầng số, Cơ quan Phát triển Truyền thông Thông tin (IMDA) đã triển khai thành công hệ thống AI điều khiển làm mát bằng chất lỏng cho các trung tâm dữ liệu vùng nhiệt đới, tối ưu hóa hiệu suất sử dụng điện và tiết kiệm đến 40% năng lượng vận hành phần cứng.
Trong quản lý tài nguyên, môi trường và đô thị tuần hoàn, Singapore đã thiết lập một hệ sinh thái giám sát chặt chẽ bằng cách lấy Nền tảng Cảm biến Quốc gia làm trục hạ tầng thu thập dữ liệu đô thị khổng lồ. Từ bệ phóng này, Cơ quan Cấp thoát nước quốc gia đã triển khai diện rộng hệ thống đồng hồ nước thông minh (Smart Water Meter) tự động truyền dữ liệu tiêu thụ về ứng dụng di động; giải pháp này giúp người dân lẫn nhà quản lý phát hiện các điểm rò rỉ ẩn sâu trong đường ống ngầm ngay lập tức và ngăn chặn hiệu quả tình trạng thất thoát tài nguyên nước. Song song với việc tối ưu hóa tài nguyên nước, Chính phủ Singapore đã thắt chặt sợi dây liên kết giữa công dân và môi trường sống thông qua ứng dụng di động tích hợp “tất cả trong một” mang tên myENV – một sản phẩm hợp tác chiến lược giữa Cơ quan Môi trường Quốc gia và Bộ Bền vững và Môi trường. Nền tảng số này cho phép cư dân chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu nhờ các tính năng cập nhật dự báo thời tiết, cảnh báo thiên tai thời gian thực (như giông bão, triều cường, sương mù), theo dõi mực nước kênh rạch để cảnh báo ngập lụt cục bộ, đồng thời liên tục giám sát chất lượng không khí thông qua chỉ số ô nhiễm PSI và nồng độ bụi mịn PM2.5 hàng giờ.
Cuối cùng, trong lĩnh vực bảo tồn thiên nhiên và gắn kết cộng đồng xanh, nền tảng trực tuyến và bản đồ tương tác TreesSG, được phát triển bởi Ủy ban Công viên Quốc gia (NParks), cho phép người dùng khám phá toàn bộ mạng lưới cây xanh đô thị của đảo quốc, tra cứu chi tiết thông tin từ loài cây, kích thước cho đến quy trình chăm sóc, bảo tồn của từng cây cụ thể thông qua tính năng bản đồ cây xanh tương tác. Không chỉ là một công cụ tra cứu kỹ thuật, TreesSG còn đóng vai trò là kênh truyền thông và điều phối xã hội cốt lõi cho phong trào “OneMillionTrees” – chiến dịch quy mô toàn quốc nhằm trồng thêm hơn 1 triệu cây xanh trong giai đoạn từ năm 2020 đến 2030. Đây cũng đồng thời là một góc học tập kỹ thuật số chia sẻ kiến thức về lợi ích của hệ sinh thái đô thị, tạo không gian để công dân kết nối, chia sẻ hình ảnh, câu chuyện cá nhân và đóng góp ý kiến, từ đó biến quá trình xanh hóa không gian sống thành một nỗ lực chung mang tính bao trùm của cả cộng đồng.
Sự thành công vượt bậc của Singapore trong việc phát triển đô thị thông minh tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi sinh thái xã hội, trước hết bắt nguồn từ sự dẫn dắt quyết liệt và tầm nhìn chiến lược của Chính phủ, nơi các sáng kiến được hoạch định và cấp vốn tập trung để đảm bảo tính nhất quán lâu dài thay vì các dự án rời rạc. Nền móng này được củng cố vững chắc bởi hệ thống hạ tầng đô thị tích hợp và mạng lưới IoT sâu rộng, tiêu biểu là Nền tảng Cảm biến cho Quốc gia Thông minh giúp thu thập dữ liệu thời gian thực để quản lý giao thông, tối ưu hóa năng lượng và giám sát chặt chẽ các điều kiện môi trường. Singapore cũng nhận thức sâu sắc rằng chuyển đổi sinh thái – xã hội sẽ thất bại nếu xảy ra tình trạng “bất bình đẳng kỹ thuật số” hoặc “lạm phát xanh” gây gánh nặng lên người dân. Do đó, đảo quốc này đầu tư mạnh mẽ vào việc nâng cao năng lực thích ứng cho cộng đồng thông qua các chương trình tái đào tạo kỹ năng xanh và phổ cập năng lực số đến từng nhóm đối tượng yếu thế. Nhờ được cung cấp thông tin minh bạch, dễ tiếp cận qua các ứng dụng quốc gia như myENV hay bản đồ cây xanh TreesSG, người dân từ chỗ là đối tượng thụ hưởng thụ động đã chuyển mình thành các cá nhân tiên phong — những người chủ động phân loại rác, tiết kiệm năng lượng và tham gia đồng quản lý không gian xanh tại địa phương.
Trở lại với Việt Nam, các đô thị nước ta vẫn đang tiếp tục gia tăng cả về số lượng và quy mô đô thị. Tỷ lệ đô thị hóa ước đạt khoảng 40% vào cuối năm 2020, và đến thời điểm năm 2025, toàn quốc có 862 đô thị. Khu vực đô thị đã thực sự trở thành động lực, đầu tàu phát triển kinh tế xã hội của các vùng và cả nước, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước, chiếm tỷ trọng chi phối trong thu ngân sách, xuất khẩu, sản xuất công nghiệp. Vì vậy, phát triển đô thị thông minh là phương thức quan trọng để tận dụng hiệu quả những cơ hội của Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) và hướng tới phát triển bền vững. Việt Nam xác định rõ, xây dựng và phát triển đô thị thông minh là một trong ba nội dung cốt lõi trong chủ động tham gia CMCN 4.0, bên cạnh phát triển kinh tế số và xây dựng Chính phủ điện tử tiến tới Chính phủ số. Dựa trên chủ trương xây dựng các đô thị thông minh của Chính phủ, nhiều địa phương ở Việt Nam đã bắt tay vào xây dựng và phê duyệt các đề án, định hướng phát triển ĐTTM, điển hình như TP.HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Dương, Hải Phòng… Đến nay, cả nước có khoảng 30 địa phương đã phê duyệt và triển khai các đề án, dự án về phát triển ĐTTM. Tuy vậy, phát triển đô thị ở Việt Nam nhìn chung là muộn và chậm hơn so với một số nước trong khu vực. Đô thị có sự phát triển không đồng đều giữa các vùng và chênh lệch nhiều giữa các khu vực khác nhau về đặc điểm địa lý, cụ thể như khu vực đồng bằng, duyên hải phát triển nhanh hơn vùng núi, vùng cao. Thực trạng chung hiện nay là các đô thị đều bị quá tải, tăng sức ép ở tất cả các mặt hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội. Dân số đô thị tăng nhanh, đặc biệt di cư từ nông thôn ra thành thị đang là sức ép lớn gây ra tình trạng quá tải trong sử dụng hạ tầng.
Dựa trên những kinh nghiệm đi trước của Singapore và hiện trạng phát triển đô thị tại Việt Nam, bài viết đề xuất 4 định hướng triển khai đô thị thông minh tại Việt Nam, tạo đòn bẩy cho quá trình chuyển đổi sinh thái xã hội.
Một là, tầm nhìn phát triển đô thị thông minh phải chính xác, có khả năng dự báo dài hạn và đạt được sự đồng thuận cao, trong đó chuyển đổi sinh thái – xã hội phải được xác định là mục tiêu quan trọng hàng đầu. Song song với đó, lãnh đạo các cấp cần thể hiện sự cam kết quyết liệt với lộ trình tổng quát này thông qua những chỉ đạo và chính sách mang tính nhất quán. Các đơn vị, hiệp hội, cùng các tổ chức cộng đồng cần phát huy tối đa sức mạnh để trở thành đòn bẩy thúc đẩy lối sống xanh và dung hợp xã hội.
Hai là, mọi nỗ lực đổi mới sáng tạo đô thị đều phải khơi nguồn từ việc lắng nghe, thấu hiểu và đáp ứng kịp thời các nhu cầu thực tế của người dân và doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu. Đô thị phải chủ động cung cấp các tiện ích hiện đại và hệ thống dữ liệu mở về môi trường (như chất lượng không khí, nguy cơ ngập lụt cục bộ, tiêu thụ năng lượng) để tạo điều kiện cho người dân đưa ra các quyết định sống xanh, thích ứng an toàn. Thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng, người dân phải được khuyến khích tham gia tích cực với vai trò chủ thể đồng quản lý, giám sát các sáng kiến sinh thái tại địa phương (như phát triển mảng xanh đô thị, phân loại rác thải tại nguồn) và tham gia vào quá trình ra quyết định ở cơ sở.
Ba là, công nghệ không chỉ phục vụ quản trị hành chính mà phải là công cụ cốt lõi để hiện thực hóa các mục tiêu sinh thái và xã hội. Đô thị cần tận dụng tối đa không gian mạng, thực hiện số hóa, thu thập và sử dụng dữ liệu để nâng cao hiệu quả dự báo, điều hành và giảm thiểu dấu chân carbon đô thị. Đồng thời, việc ứng dụng công nghệ phải đảm bảo phân phối lợi ích thiết thực và công bằng cho cả bốn chủ thể: chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và mọi tầng lớp nhân dân, tránh tình trạng “bất bình đẳng kỹ thuật số” và đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong nền kinh tế xanh. Bốn là, huy động mọi nguồn lực tài chính, công nghệ và xã hội thông qua việc chia sẻ hạ tầng, dữ liệu và tuân thủ tiêu chuẩn mở nhằm tránh đầu tư chồng chéo, tận dụng tối đa các nền tảng sẵn có; mọi dự án mới phải nghiên cứu khả năng tích hợp hạ tầng cứng (như trạm sạc xe điện, hành lang xanh) với hạ tầng số hiện hữu. Kiến tạo môi trường đổi mới sáng tạo xanh bằng cách xây dựng hành lang pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp sinh thái, thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn và chia sẻ. Quá trình triển khai phải đảm bảo tính linh hoạt, phân kỳ theo từng giai đoạn, giúp chính quyền, doanh nghiệp và người dân từng bước thích nghi, chuyển đổi kịp thời trước những biến động về cả môi trường tự nhiên lẫn kinh tế – xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Smart Nation Singapore, “Our Achievements,” accessed May 20, 2026.
2. Land Transport Authority (LTA), “Intelligent Transport Systems,” accessed May 20, 2026
3. Smart Nation: Singapore’s Intelligent Transport System (ITS),” The ASEAN Post, March 3, 2019.
4. A*STAR Institute of High Performance Computing (IHPC), “Integrated Environmental Modeller (IEM),” Urban & Sustainability Solutions (USS) Tech Hub, accessed May 20, 2026.
5. Urban Redevelopment Authority, “A Green and Digital Future Economy,” Draft Master Plan 2025: Enabling Sustainable Growth, accessed May 20, 2026.
6. PUB, Singapore’s National Water Agency, “Smart Water Meter Program,” accessed May 20, 2026.
7. National Environment Agency (NEA), “myENV App,” accessed May 20, 2026.
8. National Parks Board (NParks), “About trees.sg,” TreeSG, accessed May 20, 2026.
9. Tiến Long, “Phát triển đô thị thông minh tại Việt Nam,” Con số và Sự kiện, kỳ II, số 03 (2021): 31–33.
10. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Ứng dụng Trí tuệ Nhân tạo và Công nghệ Số trong Quản lý Đô thị Thông minh, Tổng luận Khoa học, Công nghệ và Kinh tế, số 5 (Hà Nội: Bộ Khoa học và Công nghệ, 2021).

Leave A Comment